Trang Chủ  |   Hộp thư điện tử
Đăng ký Thành viên Tìm kiếm Bài trong ngày Ðánh dấu đã đọc
Trở lại   Diễn đàn Cà Mau > Chuyên mục Chính trị - Văn hóa - Xã hội > Văn hóa
Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
 
Old 31-12-2007, 05:19 PM
heorungcm's Avatar
heorungcm heorungcm is offline
Thành viên tích cực
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 187
Mặt định Những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư

Người ta nói dân khối A khô như ngói, và cụ thể nữa là dân công nghệ thông tin khô như ngói (sinh viên nói với nhau như vậy, có thể ngoài đời khác). Và vì thế, mỗi thần dân tin học tìm cho mình một bàn tay trái, một sở thích khác ngoài việc thích cái máy vi tính. Nhiều lắm: điện ảnh nè, phim nè, thị trường chứng khoán nè, văn học nè, xe máy nè, ...

Và từ đó, heorungcm thích đọc sách

Tác giả trong nước số một thời nay của heorungcm là chị Nguyễn Ngọc Tư. Và đối với heorungcm, tác phẩm nào cũng đầy ấn tượng cả. Giải thưởng về ấn tượng như sau:
- Ấn tượng đầu tiên: với tác phẩm "Ngọn đèn không tắt"
- Ấn tượng mạnh mẽ: tác phẩm "Cánh đồng bất tận"
- Ấn tượng dịp tết: tác phẩm "Cải ơi" (lên phim mùa tết )
....
Nhiều nữa, và sau đây thì mời cùng thưởng thức.... Lý tưởng không bao giờ mất, ánh sáng soi đường không bao giờ mất, "ngọn đèn không tắt".
Trả Lời Với Trích Dẫn Moderated Post
 
Old 31-12-2007, 05:19 PM
heorungcm's Avatar
heorungcm heorungcm is offline
Thành viên tích cực
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 187
Mặt định Ngọn đèn không tắt

Người ta gửi tới nhà Tư Lai một lá thơ. Thơ đề "Kính gởi ông Hai Tương". Cả nhà bối rối không ít. Ông Hai Tương đã ra người thiên cổ lâu rồi, thấy có người nhắc lại chồng, bà cụ Hai Tương nhớ quá ứa nước mắt. Khui lá thơ ra, thì ra là thơ mời nói chuyện khởi nghĩa.

Con Tươi ngồi chắt nước cơm ngoài sau bếp than trong bụng: "Mấy chuyện đó kể muốn thuộc lòng rồi, bắt kể hoài, bộ mấy ổng hổng chán sao".

Cái khởi nghĩa đó xảy ra đã lâu lắm rồi. Dân xứ này có người nhớ, người không. Cái người không nhớ thì cũng nhớ được hai ngày. Ngày thứ nhất là ngày giỗ chung những người khởi nghĩa bị giặc bắn ngoài chợ. Ngày thứ hai là cái ngày kỷ niệm khởi nghĩa. Xã tưng bừng dựng cờ đỏ chói, chạy xuồng máy rước mấy cụ lão thành lại đằng chỗ ủy ban ngồi uống nước trà, ôn lại chuyện cũ. Những chuyện mà các cụ cất vô trong tim, trong máu, buổi sáng nhớ, buổi chiều nhớ, buổi tối cũng nhớ. Ông cụ Hai Tương - nội con Tươi - cũng được mời hoài. Dạo ông cụ già yếu, Tươi được đặc phái đi theo chăm sóc ông nên không khí hội họp nó biết chút đỉnh, chuyện mà cái hội họp nói, Tươi cũng thuộc lòng. Nói chung là không có gì mới. Con Tươi ngồi kế ông nội, có khi nó nhắc:

- Còn chuyện nội với thầy lên Hòn bắn chim bằng nạng thun đó nội.

Ông nội nó đang nói, gật gù:

- Ờ, đúng là tôi còn quên cái chuyện - nội nói - với thầy xách nạng thun lên Hòn bắn chim.

Tươi hài lòng, chành miệng ra cười, thấy mình quan trọng hẳn lên. Quan trọng ngay cả trong cuộc khởi nghĩa đã diễn ra mấy chục năm trước.

Hồi còn sống, ông nội thương con Tươi nhất. Tươi cũng thương ông nội, quấn quít bên ông. Công việc của nó là nấu cơm, chở nước, quét dọn nhà cửa. Thời gian rảnh ngồi nghe ông nội kể chuyện xưa, nghe bà nội kể chuyện còn xưa hơn nữa. Thằng Sáng suốt ngày chạy nhảy, ăn chực ở nhà hàng xóm trề môi như đưa đò:

- Ông nội khó thấy mồ.

Tươi không nghĩ ông nội khó, nhưng ông nội hơi lạ lùng. Ông nội dắt Tươi ra biển đứng sục chân trong bùn, nghe nước biển lấp liếm đầu gối, nội chỉ hướng Hòn.

- Bây coi kìa, Hòn đó.

- Dạ, xa quá hen nội.

- Bây ơi - nội đột nhiên nghẹn ngào - tao nhớ Hòn quá.

Tươi an ủi:

- Thì bữa nào nội biểu ba lấy ghe chở nội đi. Mà phải con lội hay con lội cõng nội ra ngoài. Gần thí mồ chớ gì, nội.

Vậy mà Hòn xa lắm. Có đi mới biết trời rộng, biển rộng mênh mông. Người ta đứng một chỗ nào đó nhìn bầu trời nhỏ xíu, cái Hòn nhỏ xíu, xanh mù mù rồi thấy mình cũng không cần đi đâu, không cần làm gì nữa, thế giới có bi nhiêu đây thôi mà. Tươi rút ra một chân lý, nó nói với nội:

- Cô con dạy "đi một ngày đàng, học một sàng khôn" là vậy đó nội.

Má Tươi bảo: "Con Tươi đi theo ông nội riết nó... khùng". Nó không khùng nhưng nó già trước tuổi, nó già theo những câu chuyện xưa. Ông nội ngộ lắm. Ông nói cho nó biết sở dĩ bùn xứ nó mặn là vì có rất nhiều xương máu của chú, bác, cô, dì đã đổ xuống, trong đó đương nhiên là có máu của thầy, của mấy anh em khởi nghĩa. Ông nói cho nó biết sống làm sao như cây đước thẳng tuột ưỡn ngực giữa sình lầy và còn nhóc chuyện nữa. Tươi cảm thấy mình phải có nhiệm vụ ghi nhớ những gì mà ông nội nói. Vì ba má nó lo làm ăn không có ở đây để nghe, vì thằng Sáng không muốn nghe. Rồi một bữa khác, ông nội nó ra bãi ngồi tới chạng vạng không chịu vô nhà. Ngồi coi biển đục ngầu, ngồi coi mặt trời lặn. Tươi năn nỉ ông vô nhà để ở ngoài này gió máy cảm chết. Ông nội nó không chịu vô, vò đầu nó than:

- Tao thương thầy quá. Nhớ thầy quá. Tao thèm gặp thầy, gặp anh em.

Ðâu ngờ cái lần nội nói đó, nội đi gặp thầy thiệt. Xóm Rạch vắng một người già cỗi cằn ngồi hát sử hận, mấy ông làm phim, viết sử tiếc đứt ruột ông già sống qua những tháng năm biến động và nhứt là đã trải qua cuộc khởi nghĩa trên Hòn. Con Tươi qua sông, chở nước ngọt về uống trượt chân té xuống sình. Té nhẹ phau mà không hiểu vì sao nó dầm mình vậy, nó khóc mướt.

Vậy mà kỷ niệm năm nào người ta cũng gởi thơ mời ông Hai. Không hiểu người ta vô tình quên rằng ông đã khuất hay cố ý nhớ đã từng có một con người như thế trên cõi đời này. Năm rồi thì ông Tư Lai đi thay, năm nay thơ tới trễ ông Tư đi biển ngày họp không về kịp. Cán bộ xã đút mũi xuồng lại rước. Bà cụ Hai rầu rĩ như mình đã ruồng rẫy, phũ phàng ai vậy, chép miệng than:

- Thiệt rầu hết sức, nhà tui tưởng còn ai đi kể chuyện khởi nghĩa. Hổng ấy cho con Tươi đi, chịu hôn?

- Nó nhỏ xíu hà biết không?

- Nó tuổi con gà gần hai chục rồi, nó lanh lắm.

- Thôi kệ, đi đại đi.

Vậy là lần đầu tiên Tươi một mình đi kể chuyện. Ðò chạy một mạch lên huyện, nó ngồi kế bên ông chú Chín bạn của ông nội, nghe ông chú Chín bệu bạo kể kỷ niệm hồi xưa với ông nội, những kỷ niệm tưởng đã đầy rêu, Tươi nhớ nội quá. Nội bây giờ chắc bay ra Hòn gặp thầy, gặp các bạn của nội. Họ lại cùng nhau uống trà, leo núi, đẽo nạng thun bắn chim. Họ lại lên rẫy Thuồng Luồng cuốc đất trồng khoai lang, khoai rạng. Họ không bao giờ già. Họ không bao giờ mệt. Họ không bao giờ mất. Nên người ta tổ chức họp để nhắc họ hoài hoài.

Nghe nói lần này có người trên tỉnh xuống viết sử, Tươi cũng nghe hồi hộp lắm. Nó sợ mình kể không hay bằng ông nội, thiếu những chuyện quan trọng mà người ta cần. Ông nội để lại cho nó một trọng trách nặng nề. Nó vừa đưa tay vịn tấm cao-su che nước mặn khỏi tạt vào mặt, vừa suy nghĩ lung lắm. Nó nhìn đăm đắm ra sông Lớn, những con sóng chạy rượt nhau mê mải tới bạc mái đầu. Có con sóng nào trẻ không mà lượn nào cũng trắng.

Tới cuối buổi họp thì cô gái nhỏ xíu trẻ măng ngồi cuối bàn đằng này được phát biểu: Cũng tại cô ngồi khuất sau cây phát tài nhựa nên khó thấy cô. Cô có nước da đen giòn miền biển, đôi mắt mở lớn bẽn lẽn:

- Dạ, con xin nói thêm về khởi nghĩa đó.

- Ủa, cô có tham gia hả?

- Dạ, ông nội con.

- Dà, sao cô biết?

- Dạ...

Cô gái miết tay lên cạnh bàn có vẻ bối rối. Có nhiều người ngồi quanh đây cô không quen.

- Dạ, ông nội con kể, ông nội con là ông Hai Tương. Nội con còn viết tuồng Sử hận nữa, mấy chú có nghe hát tuồng đó chưa?

- Ờ, Bác Hai Tương tôi thương lắm nghen. Ổng kể chuyện mê ly mà chính xác lắm. Còn tuồng thì nghe nói thôi, thiệt thì chưa.

- Con hát nghen?

- Thôi đừng hát, kể sử đi.

- Dạ thưa ông bác Ba, ông bác Chín, thưa mấy chú, con nói hơi dài được không?

Ông chủ tọa coi đồng hồ cười:

- Bây giờ cũng còn sớm. Chuyện của cô dài cỡ bao nhiêu? Cô mà kể hay, tới chiều tôi cũng nghe.

- Dạ - cô đằng hắng - Thầy được Ðảng phân công về xóm Rạch năm một ngàn...

Ðó là câu chuyện của cô, của ông nội cô, của những người xóm Rạch. Họ kể chuyện đó bao nhiêu lần rồi? Các nhà viết sử nghe bao nhiêu lần rồi? Nhiều lắm, nhiều không kể được. Cô gái nói lời của ba cô năm trước, nói lời của ông nội cô năm trước, năm trước nữa. Cô nói lời của lịch sử. Mà lịch sử là thứ không thay đổi. Nhưng trong lời của cô có cái nhiệt tình tuổi trẻ, trong mắt cô có mầu đen sẫm của vốc đất bãi bùn, và cô dựng xương thịt cho cuộc khởi nghĩa bằng nét mềm mại của người con gái nên câu chuyện của cô rất sâu sắc và thu hút người khác.

- Mấy chú coi con kể có sai chỗ nào không?

- À, không, hay lắm, rất hay. Cô học tới lớp mấy?

- Dạ, lớp 9, xã con dạy tới bao nhiêu đó thôi.

- Cô tên gì nhỉ?

- Dạ Tươi. Ông nội con tên Tương, ba con là Lai, hai chị em con là Tươi, Sáng.

- Tên cũng hay lắm. Tươi có biết thầy không?

- Biết. Con thương thầy như nội con vậy.

- Tôi ngạc nhiên đó. Cuộc khởi nghĩa với cô cực kỳ mơ hồ vậy mà cô nói chuyện như thể đã từng sống với thầy vậy. Thầy rất đẹp phải không?

- Dạ, bà nội con nói thầy đẹp trai lắm. Con trai xóm Rạch bây giờ không ai bằng. Thầy là đàn ông mà thầy còn biết thêu.

- Thêu à? Ôi chuyện đó tôi chưa nghe nói bao giờ, mấy chú có nghe không?

- Không.

- Có.

- Ờ hình như có.

- Tôi gặp ông nội cô ba lần, chưa lần nào ổng kể tôi nghe. Tại sao cô biết?

- Bà nội con kể. Bà nội con là đàn bà nên mới nhớ lâu chuyện đó. Bà nội con đã có lần thêu chung áo gối với thầy.

- Chung à? Thêu gì?

- Uyên ương. Chú có coi Tô ánh Nguyệt không? Trong đó có hát vầy nè: "Uyên ương có bạn có đôi...", cái áo gối đó tới giờ bà nội con vẫn còn giữ, nó hơi cũ. Nhưng ông nội con nói tội nghiệp bà nội bây, uyên ương gãy cánh giữa trời dông...

- Cháu làm chúng tôi xúc động đây. Thôi cháu kể sử tiếp. Tới đoạn đêm khởi nghĩa.

- Dạ nội con nói sau khi giết xong chúa đảo (đêm đó trăng sáng như ban ngày), bắt hai má con cô Ðầm xuống bãi, thầy biểu mấy chú, à không mấy ông chú giữ đèn hải đăng cho nó đừng tắt. Và khi chiếc tàu chạy vào xóm Rạch rồi, ngọn hải đăng vẫn với nhìn theo cháy hoài, cháy hoài, cháy hoài...
Trả Lời Với Trích Dẫn Moderated Post
 
Old 01-01-2008, 12:55 PM
crazzykat7106's Avatar
crazzykat7106 crazzykat7106 is offline
Thành viên tích cực
 
Tham gia ngày: Nov 2007
Bài gởi: 480
Gửi tin nhắn via Yahoo to crazzykat7106
Mặt định

Thankz bác heorung...MĐ đang tìm đọc tác phẩm này nà...MĐ thích nhất " Cải ơi" trong tập " Cánh đồng bất tận"...blog của chị Tư nè : http://ngngtu.blogspot.com/
Ai quan tâm thì vào thử...thỉnh thoảng chị có post tác phẩm mới lên đấy ^^
__________________

Trả Lời Với Trích Dẫn Moderated Post
 
Old 13-01-2008, 01:15 AM
crazzykat7106's Avatar
crazzykat7106 crazzykat7106 is offline
Thành viên tích cực
 
Tham gia ngày: Nov 2007
Bài gởi: 480
Gửi tin nhắn via Yahoo to crazzykat7106
Mặt định CẢi ƠI

Đoàn ca múa nhạc giải tán, thằng Quách Phú Thàn dẫn ông già Năm Nhỏ về ngã ba Sương, Thàn có nhỏ bồ mới quen bán quán ở đó. Con nhỏ tên Diễm Thương, nghe hay, mà khuôn mặt cũng ngộ, không đẹp nhưng bình thản, lạnh trơ, không ra vui, buồn, đố ai biết nó nghĩ gì. Nó hất mái tóc nhuộm vàng hoe chơm chởm như rễ tre, nhìn hai người, cười héo hắt, “Ăn bám mà kéo theo cả bầy”. Thàn cười hề hề, bảo “Ông Năm, bạn anh. Dễ thương lắm”.

Đêm đó ông già không ngủ được, thằng Thàn đi chơi nửa đêm mới mò về, thấy ông ngồi khọm rọm ngồi ngoài vách mùng, điếu thuốc cháy lập lòe soi bộ râu xơ xác. Thàn mở dây giày, hỏi, “Nhớ đoàn quá, ngủ không được hả tía ?”. Ông già lắc đầu, thở dài, nghe buồn xa xắc như lá rụng hoa rơi, bần thần, điệu này hỏng biết cách nào tìm cho ra con Cải. Ông đã đi tìm con nhỏ gần mười hai năm. Lúc Cải mười ba tuổi, một bữa mê chơi làm mất đôi trâu, sợ đòn, nó trốn nhà. Cả nhà tong tả đi tìm nhưng mãi con nhỏ không quay lại. Vợ ông ôm cái áo con Cải khóc, bảo chắc là ông để bụng chuyện nó là con của chồng trước nên ngược đãi, hà khắc, đuổi xua. Ông đau mà không nói được một lời, ông đã nâng niu nó khi mới thôi nôi, đã vui khi có người bảo con nhỏ giống ông in hệt (dù biết họ khen khơi khơi, khen bổng trên trời), đã sướng rơn khi nó gọi tiếng ba ơi, con Cải đi rồi, ông đã xuống nước mắt khi đi qua chiếc giường trước kia nó ngủ. Có bữa, ông hì hụi ém mùng, rồi ngồi một góc, nhìn chiếu gối thênh thang, lòng chết điếng vì nỗi nhớ con, vì lo nó lưu lạc giữa đời. Như thế mà ông không thương nó sao ? Như thế mà là không thương à ? Nhà buồn u buồn ám, vì đã ít người rồi bây giờ lại chẳng nhìn, chẳng cười nói với nhau. Sau, người ta còn đồn đãi ông giết con nhỏ rồi lấp ở một chỗ đất nào, họ kìn kìn lại coi (ai mà giàu tưởng tượng vậy không biết). Ông khăn gói bỏ xứ ra đi, bụng dạ đinh ninh dứt khoát tìm được con Cải về.

Ai dè, biển người mênh mông. Mỏi chân, ông xin làm sai vặt trong đoàn ca múa nhạc, để trước giờ diễn, ông mượn cái micro nói vài câu “Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè con...”. Bữa nào thằng Thàn nhớ nhà, nghe câu ấy nó cũng rướm nước mắt, bảo “con thương ông già con quá, tía ơi”. Hôm đi ba Thàn còn cầm khúc bình bát bằng cổ tay rượt nó chạy ngời ngời, nhảy xuống đò, nó ngoái lại nói để con làm ca sỹ nổi tiếng cho ba coi, thấy ông dứ cây lên trời. Hai năm, ông già đã chỏng đầu cây xuống đất, tựa vào đó để bước đi, tên tuổi Thàn mờ mịt. Thàn bùi ngùi, người ta Quách Phú Thành nổi tiếng Hồng Kông, tui thiếu có chữ h, lẹt đẹt bên hông Chợ Lớn. Nhiều bữa hát ế ngoi ngóp nằm nghe mưa dầm, nhiều bữa đứng soát vé bị bọn du đảng địa phương rượt chạy xịt khói, Thàn muốn về nhà nhưng xấu hổ, sợ ông già cười khơ khơ khơ, hỏi “Con ơi, mầy nổi tiếng chưa mà trồi đầu về đây rồi ?” Y hệt, ông già Năm Nhỏ cũng có nhà mà không về được. Đã đau quá trời đất rồi, cái cảnh bà con hàng xóm xầm xì, chỉ trỏ, người ở xa dập dìu thuê đò dọc lại nhà ngó ngiêng, đâu, thằng cha giết con đâu ? Đâu, con nhỏ bị chôn chỗ nào ? Ở gần thấy đông đúc nên bưng bánh dừa, trà đá đến bán. Đã quá chừng đau, khi ông nhìn sâu trong ánh mắt của vợ mình thấy không còn lấp lánh thương yêu, chỉ tối tăm những ngờ vực, hoài nghi, và bữa ông đi, bà đứng giữa nắng trưa, cuốc đất. Chỗ đất còn mới tinh ông vừa lên liếp, chỗ người thiên hạ ngó nhau, con Cải bị vùi dưới đó… biết đâu…

Nên ông Năm Nhỏ trụ lại ngã ba Sương, tiếp tục cuộc kiếm tìm. Ông mướn một cái nhà thấp, nhỏ như ổ mối, vừa đủ hai người còm nhom chui ra chui vào. Ông vét túi trên túi dưới sắm một chiếc xe kẹo kéo có dàn nhạc xập xình, kéo thằng Thàn theo. Ngày chạy ra bán ở chợ rau chợ cá, tối ghé vài quán nhậu, khuya về đậu ở ngã ba, xe kẹo kéo của ông nổi tiếng nhờ giọng ca nhừa nhựa của thằng Thàn, nhờ giữa hai bài hát có mục “nhắn tìm con” buồn ác chiến. Ngã ba Sương nhiều đêm thổn thức trong tiếng “Cải ơi !!!…”, nghe ngắc ngoải như tiếng chim kêu giữa lưng trời. Con Diễm Thương cằn nhằn, quán ế, buồn thấy mẹ rồi mà còn kêu Cải vơi vơi. Một bữa Diễm Thương bước ra, thảng thốt gọi “Ba !”. Ông già đứng im sững, ngơ ngác giây lát, môi run lập bập hỏi Cải phải hôn con. Diễm Thương gật đầu. Thiệt con là Cải hả ? Diễm Thương níu tay ông rưng rưng gọi thêm một tiếng ba tha thiết. Ông già nắn đầu, nắn vai nó với một nỗi vui chảy tràn, trời đất, ba nhìn không ra, bây lớn dữ dằn vầy. Ông đi vài bước, ông day lại nhìn Diễm Thương (cho chắc là nó đang đứng đây, và có thiệt trên đời), ngước về phía trời sao, rồi ngó thằng Thàn, ông cười, để miệng muốn méo sao thì méo, “Tía kiếm có con Cải rồi, dễ ợt hà mầy ơi”. Nghe giọng là cuộc hành trình ròng rãi mười hai năm của ông (và những oan khuất, buồn đau ) khép lại ở đây rồi. Ngày mai ông dẫn Diễm Thương về Cỏ Cháy, ngay trên chuyến tàu đầu. Chắc vợ ông ra cửa che tay khum khum trên trán, hỏi ai vậy cà, ông sẽ nói con Cải chớ ai, bà sẽ mừng hết lớn, phải còn trẻ thể nào bà cũng nhảy cà tưng. Ông sẽ đưa nó đi dài xóm, khoe “Con Cải tui về đây nè, bà con coi, nó lớn quá chừng hen”, vẻ mặt không giấu được hả hê (vậy mà mấy người nói tui giết nó). Nghĩ đến đó, nước mắt ông tuôn dài. Diễm Thương cười, đứng dậy khoan khoái phủi tay, nói “Không ngờ mình diễn quá hay”, rồi nó khom người, nhìn sâu vô đôi mắt ràn rụa của ông già, mặt tỉnh bơ ba khía, mỉa mai, “tui giởn đó, ông làm ba kiểu gì mà không nhớ mặt con gái mình ?”. Và cơn mơ hết. Diễm Thương đi gom tiền thắng độ, đám tiếp viên léo nhéo nhằn ông già sao mà dễ tin, làm họ mất mấy chục ngàn. Diễm Thương lạnh lẽo cười, cái mặt nó tỉnh hết biết, kiếm tiền dễ ợt mà chẳng gợn lên chút đắc ý nào. Ông Năm bẽ bàng ngồi đó, bẽ bàng lau nước mắt, cười héo queo héo quắt, “Con nhỏ giỡn có duyên hết hồn” mà trên khuôn mặt vẫn còn đầy ứ những thương yêu. Thằng Thàn ứa lòng nhìn ông Năm già đi khủng khiếp nó giận muốn bóp cổ nhận nước Diễm Thương cho rồi, khi con nhỏ nhơn nhơn trở qua, giơ nắm tiền, rủ đi ăn hủ tiếu. Trò diễn kết thúc, ông già nằm rũ, đúng hai ngày lời nhắn tìm con Cải lại thắc thỏm ở ngã ba Sương. Con Diễm Thương bực lắm, nó gặp Thàn là đá ghế quăng ly, nó nói “ổng đừng mắc công tìm, con Cải chắc chết ngắc rồi. Sao tui thù con nhỏ đó quá trời, có nhà mà bỏ, có cha có mẹ mà không thèm... Cái thứ người đó, cho nó chết bờ chết bụi cũng đáng”. Rồi nó nghẹn ngào, “Còn tui, người ta đã quăng ở đây mười tám năm, tui chờ hoài mà có ai tìm đâu...” Thàn mới hay đời con nhỏ cũng buồn, hai đứa ngồi sát lại gần nhau, thở dài nghe cả vành tai tê tái. Tối đó, Thàn nằm gác tay lên trán, nói “Mai mốt con dẫn nhỏ Diễm Thương về lạy ông già con à, tía Năm. Tính thương chơi thôi nhưng bây giờ thành thiệt rồi”. Ông Năm phấn khởi, vậy hả, vậy à, phải làm đám cưới tử tế cho con nhỏ đỡ tủi, để tao làm ba nó, đại diện cho đàng gái làm sui chơi. Lựng khựng rồi mùa nắng quay trở lại, người ta dọn sạch cả một bờ sậy, bông đang vào mùa bạc ở ngã ba Sương, cất thêm chừng chục quán nhậu ôm nữa. Cánh phòng chống tệ nạn xã hội bắt đầu để ý cái chòm lu bu này. Phía báo đài cũng dòm ngó. Một bữa, họ ập vào, quay phim, chụp hình búa la xua. Đám tiếp viên che mặt, ôm đầu, chỉ có Diễm Thương là điềm nhiên trơ mắt ngó. Phóng sự phát lên ti vi, cái nhìn đó như dấu hỏi nao lòng, tôi đây nè mà ba má ở đâu ? Có nhận ra tôi không ? Có nghe đau lòng ? Thằng Thàn thấy cảnh người yêu tỉnh bơ ngồi trên đùi ông khách, buồn quá, bỏ đi uống rượu. Sáng sau, ông Năm dúi vô tay Thàn ít tiền biểu “đưa con nhỏ về nhà”. Thằng Thàn nói :
- Con không đành để tía ở lại một mình.
- Vậy bây nỡ nhìn con nhỏ sống vầy hoài sao ?

Một sớm, hai đứa dắt nhau đi, ông già nhìn theo cho đến khi bóng chúng chìm giữa mịt mù. Lòng ông đã chuẩn bị rồi một cái vẫy tay, tiễn hai đứa ra khỏi những con đường sương gió. Nhưng mờ chiều, đám trẻ trở lại, mặt con Diễm Thương vẫn thản nhiên nhưng thằng Thàn buồn tê tái. Cả nhà Thàn hết hồn vía dồn lại ngó nhau, nhận ra đứa con gái nầy lên ti vi hôm trước, coi bộ làm nghề hỏng được đàng hoàng, coi bộ thằng Thàn bị nhỏ này dụ dỗ. Diễm Thương chỉ cười, gật đầu chào rồi bước xuống bến đón tàu ra thị xã. Lại về ngã ba Sương, chỗ của những người không còn đường trở lại nhà. Diễm Thương nói tui mắc cười quá ông Năm à, tui lên ti vi để cha mẹ nhìn mà họ không biết tui là ai, còn người dưng liếc ngang là nhớ liền. Ông già Năm Nhỏ lặng người đi, tự hỏi, bây giờ ông lên ti vi, con Cải có nhận ra mình không. Người đã dắt Cải đi hái xoài chín trong vườn hoang, đã chặt chuối làm bè dạy cho nó lội, thả trâu, chơi diều… Đã cõng nó đi tắt mấy vạt đồng đến chỗ ông bác sỹ già, mỗi khi nó nhức đầu, sổ mũi. Cây kẹp nhỏ, mớ dây thun khoanh, mấy cục kẹo dừa vung vinh trong túi áo mỗi khi ông đi chợ về... Tất cả những thứ đó, ông nhớ mồn một thì nhỏ Cải chắc chưa quên. Ông già muốn lên ti vi để nhắn đứa trẻ bỏ nhà rằng, về đi con ơi, đôi trâu có xá gì… Đăng tin trên truyền hình đắt đỏ, mà lần nào lại phòng quãng cáo ông cũng phải đôi co, đòi phải đọc theo ý mình, trong đó có đoạn, “con không về ba nhớ đã đành, má con còn giận ba, không nhìn mặt”. Người ta cười, trên đài chứ có phải chợ trời đâu mà muốn nói gì cũng được. Ông giận, quày quả về nhà, nghĩ cách tự mình lên ti vi. Có lần, ông đậu xe kẹo đầu chợ, thấy người ta làm phim vụ lấn chiếm lòng lề đường, người hốt thúng mủng cá rau bỏ chạy, ông sướng rơn lăng xăng chạy tọt chỗ này ló mặt đằng kia, mấp máy câu “Cải ơi...” (mà vô phim người ta đã xóa mất tiếng còn đâu). Chỉ mong được thấy mình trên ti vi, một khuôn mặt teo héo xạm đen dưới những sợi tóc ngã màu trắng xóa, một thân hình gầy guộc, lưng đã chớm còng.. “Mình thèm lên ti vi muốn chết giấc mà không được, còn mấy ông cán bộ ngồi chình ình trong đó hoài, thấy mắc ngán, ông già Năm Nhỏ than thở với thằng Thàn, nói sao tao muốn làm bí thơ tỉnh quá”. Thàn kêu, trời ơi, chi vậy tía. Ông cười, lên ti vi chớ chi, lúc đó tao đường hoàng nói chuyện với con Cải, tao nói từ từ, nhắc chuyện xưa cho nó nghe. Thằng Thàn cũng cười, tưởng tía làm lớn để lo cho dân, ai dè cũng bo bo cho mình. Họ ngồi đụt mưa dưới một hàng ba trường tiểu học. Nước đổ trắng trời. Mùa còn ướt lạnh dài dài. Thằng Thàn lo ở nhà mưa dột ướt đầu giường, về không có gối để nằm, không mền để đắp. Diễm Thương biết có chạy qua không hay là bận khách, bận cười cợt (mà lòng não nề) biểu uống với em chút nữa đi anh. Thàn chép miệng, buồn quá tía ơi. Mê văn nghệ văn gừng nên chừng này tuổi đầu rồi mà nghèo quá chừng, đến nỗi không lo được cho nhỏ Thương. Ông già Năm Nhỏ thấy thằng Thàn xuống nước mắt. Ừ tối nay, ông cũng thấy mình hoang mang buồn bã rã rời, như sắp đến cuối đường rồi, mà không biết chắc có nhà mình phía đó. Ông thở dài ứ hự, chống tay liêu xiêu đứng lên, bảo, mưa chắc còn dài, thôi dầm mình về, nhỏ. Đêm đó, thằng Thàn ôm ông già Năm ngu, nó kêu lên, tía ốm dữ dằn thiệt, xương tía cấn con đau quá chừng. Ông già cười, ờ, chê mai mốt không có mà ôm nghen con. Thằng Thàn hỏi ông nói vậy là có ý gì, ông hỏi ngược lại, chớ bộ mầy tính cưới vợ rồi mà còn chun qua ngủ với tao ? Thàn cười, ờ há ờ hen. Mắc cười, ông còn rù rì tính chuyện nấu mâm cơm cúng trời đất để xáp nhập nhỏ Diễm Thương về nhà bên này, sắm cái tủ thuốc lá nhỏ để cho nó buôn bán vặt thì thằng Thàn đã ngáy o o.

Nửa đêm, Thàn giật mình tỉnh giấc, không thấy ông già, nó ngật ngừ ngồi dậy, trên bụng rớt xuống một gói tiền. Xe kẹo kéo vẫn còn nguyên, Thàn kéo cửa bước ra ngoài. Ngã ba Sương đã tắt đèn, những con đường hun hút mù mịt dưới mưa, như không cần biết đến từ đâu, chỉ biết gặp ở đây, phút này. Thằng Thàn làu bàu, hỏng biết ông già chừng này mà đi đâu vậy cà. Ông Năm đi ăn trộm chớ đâu. Ông lội bộ gần năm cây số trong mưa sụt sùi vô trong xóm, ghé chỗ lò mổ, dắt đôi trâu đem đi. Ông làm gọn gàng như với đôi trâu ở nhà. Sáng ra ông trở lại, ghé đúng ngôi nhà có hàng so đũa cặp mé lộ, ông thấy một đám người đang tao tác đứng ngồi, ông hỏi, mua trâu hôn, tui kẹt tiền đem bán đây nè. Chủ nhà chạy ra la lên, trời ơi, bắt ổng lại, ổng ăn trộm của tôi. Ông Năm giả đò hết hồn, nhưng trong bụng thấy trúng ý, bảo, từ từ, tui có chạy đâu mà sợ. Người ta đưa ông lên ấp, ấp giải lên xã, ông luôn miệng nhắc, mấy chú nhớ kêu đài truyền hình xuống nghen, phải quay tui để dân người ta cảnh giác. May, đài tỉnh xuống thật, phóng viên một tờ báo cũng chạy theo, dọc đường hăm hở rút sẵn tít “Đạo tặc đãng trí” (thì ai cũng tưởng vậy). Cái cách đời nhảy xổ vào lỗi lầm của người khác thiệt là tưng bừng. Họ phỏng vấn ông chủ lò mổ, phỏng vấn trưởng công an xã, cuối cùng, ông Năm xin được nói đôi lời, còn dặn, mấy chú làm ơn đừng cắt bỏ tiếng tui, rằng “Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè, nhà mình ở Cỏ Cháy đó, nhớ không ? Về nhà đi con, tội má con vò võ có một mình. Con là trọng, chứ đôi trâu cộ nhằm nhò gì… Về nghen con, ơi Cải…”.

Nghe đâu, hôm đó, nhiều người rơi nước mắt, vì vậy mà vụ trộm trâu không được lên ti vi, sống giữa cái rẻo đất nhân hậu này nhiều khi cũng hơi phiền. Nghe đâu, hôm đó đài truyền hình có đưa tin nhưng chỉ thấy ông già nhép miệng một cách tuyệt vọng. Như đã nói, nhà đài người ta chớ có phải chợ trời đâu, mà có thể thoải mái gọi, “Cải ơi !”
__________________


thay đổi nội dung bởi: crazzykat7106, 13-01-2008 lúc 01:17 AM
Trả Lời Với Trích Dẫn Moderated Post
 
Old 06-04-2008, 10:50 AM
heorung's Avatar
heorung heorung is offline
Moderator
 
Tham gia ngày: Oct 2007
Bài gởi: 435
Gửi tin nhắn via Yahoo to heorung Gửi tin nhắn via Skype™ to heorung
Mặt định Duy đi chợ

Duy đi chợ

Câu chuyện của tôi xin được bắt đầu từ một sáng chợ đông, bắt đầu từ cái bóng người bé nhỏ đang lon ton luồn lách giữa các lối đi chật hẹp và tăm tối. Cậu bé mua ít thịt nạc, khoai tây, và một ít tép bạc, loại nhỏ. Cái máy ảnh tôi dõi theo đằng sau nó làm cả chợ rộn ràng, mấy chị bán cá quen cười, ghẹo “thằng nhỏ Duy này ngon quá ta, bữa nay được chụp hình lên báo…” Rồi có chị ngoảnh lên, hỏi tôi, “nó đi chợ hồi ba bốn tuổi, bộ lạ lắm sao?”

Không, như bất cứ người nào từng lui tới cái chợ phường 1 này, tôi quen cái cảnh Duy ăn sáng một mình nơi góc chợ. Cái bàn ăn cao lé đé gần đến cổ Duy, lúc đó nó chưa đầy bốn tuổi. Dưới ghế, cạnh chân Duy là mấy cái túi ny lon đựng cá, rau… Duy đi chợ sớm, trên đường đi làm, tôi ghé ngang qua, thường nhìn thấy Duy men theo vỉa hè, hai tay xách lặc lè, lách mình bên những tủ thuốc lá, những chiếc dù che nắng. Nó cao, gầy gò, mớ tóc vàng hoe chấp chới theo mỗi bước chân. Bóng nhỏ tăm tăm.

Đứa trẻ mang họ mẹ…

Bây giờ, Duy lên sáu, mỗi khi nhìn nó lắc xắc giữa những sạp rau cải, hình ảnh đơn giản đó bỗng truyền vào lòng tôi hàng trăm hình ảnh khác, dội lại âm ỉ những số phận. Tôi nhớ gương mặt mũm mĩm của đứa em họ, mười bảy tuổi hay vắng nhà, la cà bè bạn, tụm năm tụm ba ăn vặt ngoài đầu hẻm. Có một dạo thấy mình mập, tròn vo, nó đi mua vòng về lắc. Con nhỏ càng lắc vòng eo càng vượt trội. Chạy bộ cũng không ăn thua. Hôm tới phòng khám, nghe bảo mình mang thai, con nhỏ còn nự nự, hết chuyện nói giỡn rồi sao. Nhưng máy siêu âm thì không biết giỡn, nó báo thai nhi sáu tháng tuổi.

Nhân vật chính của bi kịch bắt đầu “phát biểu” bằng những cú quẫy đạp trong bụng một đứa trẻ khác, đang lo lắng cho cái tương lai mù mịt của mình. Thằng bạn trai rũ bỏ trách nhiệm, sau khi đem tới món tiền “để mai mốt đi sanh…” Hai triệu đồng như một cái vẫy tay. Cha của cậu ấm này là một nhà thầu làm các công trình giao thông đình đám ở Cà Mau. Người ta nói rằng cứ chiều chiều tới các quán nhậu - ca cổ nổi tiếng trên đường Nguyễn Du thì gặp ông, và bất cứ cô tiếp viên nào cũng biết số điện thoại của vị khách hào phóng.

Thuận miệng thì kể chơi thôi, chuyện của Duy thì không liên quan đến người đàn ông ấy. Mặc dù đôi lúc tôi nghĩ, giá mà người ta được nhìn Duy hôm nó mới ra đời. Một đứa bé đẹp như thiên thần, như trong lịch tết, đẹp đến ngạt thở. Đẹp đến nỗi tôi phải vịn cái bụng đã đội áo của mình, một cách tuyệt vọng, kêu thầm, “trời ơi, giá mà con mình đẹp được như vầy…”. Hôm tôi thăm, vài chị lạ mặt lượn lờ lại nhìn, đứng mê mẩn hồi lâu, sau ra sân thầm thì, rồi lại quay lại nhìn. Họ muốn xin đứa bé. Mẹ - mười bảy - hẹn ngày mai, “cho nó ngủ với con đêm nay nữa thôi…”. Sáng hôm sau thì số phận Duy được gắn chặt với con hẻm, cái chợ và người bà mù loà, mẹ Duy giữ nó lại, dù mới mười bảy tuổi, dù vẫn còn dài những cuộc chơi.

Hai tháng sau con tôi ra đời, mẹ Duy đã lại lông bông với đám bạn ngoài đầu hẻm, ăn quà vặt, ném trả bọn con trai chọc ghẹo mình bằng mấy câu mắng mỏ vu vơ, ánh mắt nguýt dài. Gặp tôi mẹ Duy khoe, “thằng Duy biết lật rồi, bữa đó em đi chơi về, thấy nó lật mình ên, tức bụng khóc quá chừng…”. Những khi bận rộn, không tới nhà Duy, tôi nhìn con mình lớn lên và biết Duy cũng lớn lên. Tôi hay hình dung cảnh mẹ Duy đi chơi về và hết hồn hết vía thấy nó bò lủm củm dưới sàn, hay một bữa nào, bà mẹ trẻ nhảy cẫng lên mừng khi thấy con lững đững đi ra cửa đón. Đôi lúc thấy Duy mặc bộ đồ thun rẻ tiền ngắn ngủn, tôi tự hỏi có phải bộ này mẹ Duy mua vào một hôm ngẫu hứng nào, khi mang về mới hay đứa con trai đã cao?!

Cái ý nghĩ sau này lớn lên, Duy sẽ rất buồn khi nhìn thấy hình ảnh mình, lát cắt cuộc đời mình ghi lại trong tờ báo cũ, khiến tôi vài lần bỏ dở bài viết này. Nhưng rồi tôi lại tiếp tục, vì mảng ký ức tuổi thơ của Duy mà tôi trân trọng lưu giữ hôm nay, đáng tự hào biết chừng nào.

Nhìn đời cho cả hai người…

Sáu tuổi, có hai người mẹ Duy lần lượt dắt về vào bảo nó gọi cha. Tôi hỏi Duy, thích cha không, Duy lắc đầu, “con kêu nó mà nó không trả lời”. Xen giữa những cuộc đi mải miết, làm đủ thứ nghề lặt vặt như làm móng, làm nhân viên mát xa, có dạo mẹ Duy mướn nhà ở chung với anh thợ hớt tóc nào đó, rồi hai đứa bỏ nhau, lại yêu anh chàng khác, giờ thì lên Cần Thơ kiếm sống. Duy sống với bà ngoại, tôi gọi bằng dì. Dì mù, do biến chứng của căn bệnh thuỷ đậu lúc nhỏ. Cô độc, không chồng, nhận mẹ Duy về nuôi để hủ hỉ lúc về già, dì đã không ngờ đến những cuộc đi. Nhưng Duy còn ở lại, nó an ủi dì theo cách của nó, một tiếng khóc đòi ăn, một cái quần sũng nước đái, một cái nhảy mũi... Dì lật bật xoa dầu, thay quần, giặt tã, rồi day qua khuấy bột. Dì bận rộn lắm, bận như cái hồi nuôi mẹ nó. Dì biết nó gầy bằng những ngón tay, nhận ra tiếng khóc nó giữa đám trẻ chơi đằng xóm bằng đôi tai tinh nhạy, gói nó vào lòng khi đêm xuống.

Cho đến khi Duy trở thành một gã đàn ông đĩnh đạc cầm tiền tự ăn sáng và đi chợ. Lúc đầu, Duy còn đi theo mấy dì hàng xóm, sau thì tự đi. Duy muốn ăn gì, thì mua cả bà cháu cùng ăn. Một tháng có sáu ngày bà ngoại ăn chay, Duy cũng ăn chay, rau dưa qua bữa. Sáu tuổi, Duy biết nấu cơm, làm cá, rửa chén, hâm nóng thức ăn bà ngoại nấu, lúc đói, trèo lên bếp nấu mì gói. Có khi đang chơi vui, bỗng dưng bỏ đi tắm. Chẳng ai bảo, tự mình xoay trở, mãnh liệt và hồn nhiên như cỏ mọc trong vườn.

Cuối năm vừa rồi, bà cháu Duy dọn đi khỏi con hẻm nhỏ đến một nhà khác cũng gần đó. Bà ngoại làm quen với nơi ở mới bằng đôi mắt của Duy, nó dắt ngoại đi khắp cái nơi xa lạ mà cánh cửa, cái bậc thềm, bộ bàn ghế… đều là bẫy đối với người khiếm thị. Phơi đồ chỉ Duy mới trèo lên gác được. Những lúc rảnh rỗi Duy hay ra trước cửa nhìn bên đường, mặt mông lung như con hổ nhớ rừng, như một gã giang hồ nhớ những chuyến đi. Mà, Duy là giang hồ thứ thiệt rồi còn gì, những con hẻm lẩn khuất, chằng chịt sâu hút quanh đây Duy đã đi chơi khắp. Gã có nhiều bạn bè, gã dang nắng chửi thề. Kỳ lạ, nắng chỉ làm vàng thêm tóc, nhưng da vẫn trắng như con gái. Và bất chấp những thiệt thòi, cái miệng nhỏ với đôi môi đỏ vẫn hay cười, mỗi lúc gọi Duy ơi, gã ngước nhìn, mắt đen tròn, trong vắt và sâu thẳm.

Xóm hẻm, và cả cái chợ thực phẩm nhỏ giờ cách Duy một con đường lúc nào cũng gầm gừ xe cộ. Duy phải nhờ người lớn dắt qua. Nhiều lần, đưa Duy qua đường, nhưng chưa bước lên vỉa hè, Duy đã xé tay tôi ra lủi thủi chạy vào trong chợ. Vài lần, tôi chở con trai tôi và Duy đi chơi loanh quanh ngoài đường, nó ngồi phía sau, phải nhắc rất lâu nó mới chịu vòng tay ôm đầy ngượng ngập. Tôi cũng ngượng ngập, bởi cái bàn tay nhỏ nhắn này, tôi đã từng nắm lấy rồi lại buông ra, khi Duy lên hai lên ba. Nhưng từ bây giờ, tôi sẽ tập nắm tay Duy, hy vọng đến giữa mùa thu năm nay, Duy sẽ cho tôi một cơ hội được dắt nó vào tận cửa lớp trao cho cô giáo, như hàng trăm đứa trẻ khác, được mẹ đưa đi trong ngày tựu trường.

Nguyễn Ngọc Tư
Trả Lời Với Trích Dẫn Moderated Post
 
Old 16-04-2008, 09:25 AM
heorungcm's Avatar
heorungcm heorungcm is offline
Thành viên tích cực
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 187
Cool

Hôm qua trời mưa, mưa một trận tầm tã, dữ dội, làm như là thành phố ... ở dơ quá lâu nên phải lôi đi tắm một trận ...

Mà mưa thì lại nhớ... Cà Mau. Ai biểu hồi đó trời mưa mà dám leo cây mận bẻ trái ăn... hà hà... Bây giờ ai thách cũng không dám nữa đâu

Sáng, lên mạng đọc tin tức, vô tình gặp bài này, post cho bà con đọc chơi.



Rơm rạ xốn xang



Tôi đã sống trọn một ngày ở thành phố xa lạ đó. Một ngày, đủ để tôi không còn bất ngờ nếu thấy giữa những toà cao ốc bỗng có mấy ngôi nhà kiểu cổ với những diềm mái cong lên, không ngạc nhiên khi đang đi trên con đường xe cộ tuôn trào gầm gào bất chợt rẽ vào ngõ hẻm, bất chợt vắng lặng, hanh hao với những hàng rào gỗ, những dây leo, bầy chim sẻ ríu ran trên mái rêu. Đủ bình thản cho tôi, khi ngồi nhìn mấy cậu nhóc nhảy loi choi đọc Rap trong buổi tưởng niệm một nhà thơ nổi tiếng, sau tiết mục ngâm thơ, biểu diễn đàn Gayageum... Cả khi lần theo những bậc thang gỗ từ căn phòng lưu giữ những kỷ vật, bút tích của nhà thơ xuống một không gian tưởng niệm khác, dường như tôi đã rất dửng dưng. Nhưng không hiểu sao tôi lại thảng thốt, “Má ơi! Rơm rạ!” khi đẩy cửa bước vào.

Trong cái khoảnh khắc đó, tôi quên mình đã ra khỏi biên giới hàng vạn dặm, quê nhà đã quá xa. Không cầm lòng được, bởi vẻ đẹp của những sản phẩm, mô hình tinh xảo làm bằng cọng rạ sợi rơm trưng bày ở đây. Những đàn trâu, bầy khỉ, em bé, cụ già, ngôi nhà, đôi giày nhỏ… nằm ngồi lũ lượt trong những gian tủ kính lấp lánh ánh đèn. Không cầm lòng được, vì rơm rạ quê mùa quá đẹp, nhưng ráo hoảnh, buồn thiu.

Nơi này khác với cái bảo tàng rạ rơm mà tôi đã từng đi qua, là cả một cánh đồng thênh thang gió nắng. Một cái xóm nhỏ ngó ra con kinh nghiêng chắt nước lên đồng. Không gian sống động đến nỗi có thể cảm nhận được mùi hương của bông súng nở trong đìa, tiếng con chim tu hú gọi bầy tao tác, cá quẫy dưới váng bèo. Trên bờ vườn, dưới ao, mấy bầy gà, bầy vịt ta thong dong bới tìm mồi trong rào sậy. Những con vịt ơ hờ, lười nhác, hay co một chân lên ngủ vật ngủ vờ, bỗng một bữa lăng xăng kêu hoài, chúng cảm giác mình sắp được tự do ngoi quẫy trên đồng, bên những chân rạ còn ứa nhựa, sắp được vục cái mỏ dài vào những ụ rơm tươi. Mùa gặt.

Máy suốt lúa được đẩy xùng xèng dài theo xóm. Nó cắc cớ thổi rơm vướng những nhánh cây, tạo thành những cái hốc, làm chỗ cho đám con nít chui ra chui vô. Nơi đó ấm áp, thơm tho đến nỗi có bữa một đứa ngủ quên, báo hại cả nhà nó phải nhảy xuống ao mò kiếm xác, có bữa đang chiêm bao, bỗng dưng nghe lưng áo ướt đầm, thức dậy mới hay cái ụ rơm bị tuột xuống mé kinh, dập dềnh. Thì có sao, đứa nhỏ níu mấy bụi cỏ ống, lóp ngóp lội lên.

Đứa trẻ đó không bao giờ lớn, cũng chẳng đi đâu, cứ quanh quẩn trên những đống rơm mùa hạ cùng với bầy trẻ khác. Chúng nhào lộn, chúng nhảy từ trên đỉnh xuống bãi rơm nằm tràn ra đường đi, chúng phủ rơm lên người nhau, nói cười nắc nẻ… Lúc nào đi qua miền thương tưởng rạ rơm, cũng thấy tụi con nít với cuộc chơi không bao giờ chấm dứt. Cuối chạp, những cây rơm đã dẽ dặt, sạm màu nắng, không còn hấp dẫn nữa, đám trẻ kéo ra đồng, chạy nhảy cuồng nhiệt trong những cơn gió trời cuồng nhiệt. Buổi xế tát vũng kiếm cá, đào hang bắt chuột, cuối chiều thả diều trên những chỗ ruộng gò, nước đã kiệt chỉ còn trơ chân rạ. Tôi ngồi ở một bờ mẫu nào đó, bắp chân nhột ran vì những cọng rạ chọc ngoáy, nhìn theo một đứa giống hệt tôi hồi nhỏ, cả nước da đen, cái xương vai nhô lên bén ngót, gầy guộc, cả cái tính mau nước mắt khi diều đứt dây băng xuống chân trời.

Tôi đã gặp đứa bé đó suốt miền rơm rạ, những chiều nó lăng xăng rải rơm đậy giồng cải mới gieo, những khuya gặp nó đi coi ti vi ké ở nhà hàng xóm về, một mình trên con đường rập rờn cỏ hoa và bóng tối, con cúi vấn bằng rơm trên tay cháy rực, những tàn đóm loé lên rồi hui hút bay trước khi lịm tắt đi. Có lần tôi thấy nó đứng kế bên một chị con gái tóc dài đang ngồi dong dải lựa những cọng rơm dài, nó cứ kéo tay chị, òn ỉ, “làm cho con cây chổi nhỏ đi, đi mà, Út!”. Tôi ngó người đó cắn cọng dây giữa cặp môi buồn để riết chặt cái cán chổi, thấy chị sao mà giống một người thân, buột miệng kêu “dì! dì ơi!”. Nhưng tiếng kêu tôi đã bị tiếng reo của đứa bé đang chầu hẫu ngồi chờ làm bạt mất, cây chổi nhỏ xíu đã được bó xong rồi. Ngay lập tức, nó hớn hở xách đi quét bộ ván ngựa, vài hạt lúa lép trên cái chổi mới vướng lại lỗ thủng chỗ mọt ăn.

Người con gái, bộ ván, vách bếp treo một hàng chổi rơm đều tắp… cho tôi một cảm giác kỳ lạ, như thể tôi chính là đứa bé kia, như thể tôi đang sống ở đó. Không có một chi tiết giả nào trong không gian thương nhớ rơm rạ này. Vi tế đến mức, qua một ngày nắng gió, những sợi rơm lại se khô một chút, lại vàng sẫm hơn một chút, lại giòn hơn một chút. Sang tháng ba thì rạ ngoài đồng đã khô quéo cọng, đứa bé kia lúp xúp theo cha nó đi đốt đồng. Ngọn lửa nhỏ run rẩy trong tay, chẳng mấy chốc cơn lửa chạy lan đi. Khói từng bầy dùng dằng tan tác trong những cơn gió rối bời cuối mùa. Đứa bé đang thắc thỏm cho mấy con dế than dế lửa không biết có chạy kịp không thì đám bạn nó ở ruộng bên kia réo qua ăn chuột đồng nướng rạ.

Mưa đầu mùa ào tới khi khói vẫn còn vướng vất trên những thửa ruộng khô. Sa mưa, rạ rơm sống một cuộc đời khác, của những hoá thân. Rạ hoà trộn vào bùn nhão nuôi dưỡng những mầm lúa xanh muốt. Bầy gà tìm trùn đất, bươi đống rơm ướt vung vãi ra sân. Đống lúa lép, bùi nhùi mấy con vịt xiêm đã sục sạo suốt một mùa gió chướng, bỗng mọc lên mấy chòm lúa mỏng mảnh, xanh xao. Tôi lại thấy đứa bé có khuôn mặt quen trốn ngủ dầm mưa hái những cái nấm mọc theo mảng rơm mục rã. Những cái nấm còn tròn như trứng chim, chỉ qua một đêm đã giương chiếc dù nhỏ xíu, thấp tè.

Giữa mùa mưa, những bãi rơm đã ngả màu của đất, hoặc chúng hoá thân vào đất. Nhưng tôi vẫn nhìn thấy sức sống của rơm rạ trong cái nách lúa đã trổ đòng đòng, trong giồng gừng, giồng bạc hà mướt lá… Cái màu vàng ngày cũ đã tự cháy để tái sinh vào màu xanh rượi của cỏ cây. Tôi không mảy may tiếc, vì biết khi những ngọn gió ráo tạnh trở về cái xóm nhỏ này, lại một mùa rơm rạ mới.


Tôi lại ngồi ở chỗ bờ đất tươi thơm, lại gặp những người quen đi lại thẩn thơ. Có anh Kim Ba hiền lắm ngồi ở bộ vạt cau trước nhà ai run rẩy viết mấy câu thơ “Mẹ xin rơm gánh về phơi nắng. Phơi nỗi lo trong rừng rực trưa nồng…”, đi một quãng gặp ông già Bắc Sơn râu tóc trắng gõ đũa lên miệng chén ca “Nắng hạ đi, mây trôi lang thang cho hạ buồn coi khói đốt đồng để ngậm ngùi chim nhớ lá rừng…”, và một chiều tơi bời khói rạ, người đàn ông đứng cạnh tôi đọc khẽ mấy câu thơ “Gió phóng túng thổi trên đồng bát ngát. Gốc rạ phơi vàng nghệ giữa trời...” Tôi hỏi ông tên gì, ông cười, Diệp Minh Tuyền. Qua cái bờ tre cong muốn vẹo lòng, gặp một người đang cúi lạy trước rơm, hỏi sao làm chuyện kỳ cục vậy, người này cười, “cả đời tôi muốn được sống thanh thản mà mãnh liệt hết mình như rơm rạ…”, định hỏi tên thì người bỗng hát vống lên bằng cái giọng tệ dễ sợ, em là tôi mà tôi cũng là em. Và trên những con đường, mé mương, bờ ruộng, tôi thường gặp lại những người bạn thuở thiếu thời, ai cũng thơ thẩn theo chân một đứa bé giống hệt mình, hồi nhỏ.

Họ cũng tới miền rơm rạ bằng một sân ga bí mật nào đó giống như cái ga Chín - Ba Phần Tư trong thiên truyện Harry Potter, như tôi. Đưa tôi đi đôi khi là một cơn gió chướng lạc bầy se sắt lạnh, đôi khi là mấy cái nấm rơm nằm héo hon trong rổ nơi góc chợ, có khi là bà già bán dạo chổi rơm đi liêu xiêu trong khói nắng… Một bữa đón con ở trường về, đi qua cây so đũa rụng bông trắng xoá ở góc đường báo tin mùa rơm mới, tôi buồn bã nhận ra không một sân ga, chuyến tàu, cánh cửa nào cho thằng con mình đi đến cánh đồng tháng chín xôn xao rơm rạ cùng mình.

Con tôi chỉ có thể loanh quanh trong căn phòng chật, mòn quẩn với đống đồ chơi nhựa, với câu chuyện cổ tích tôi gửi lại. Quá nhiều cổ tích, về miền rạ rơm đã mất, những mảnh đất, vùng trời đã mất, những người anh hùng đã mất…

Ý nghĩ đó làm tôi muốn khóc...

Nguyễn Ngọc Tư
Trả Lời Với Trích Dẫn Moderated Post
 
Old 01-11-2008, 01:02 PM
heorungcm's Avatar
heorungcm heorungcm is offline
Thành viên tích cực
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 187
Mặt định

Một tác phẩm mới của chị Nguyễn Ngọc Tư, đăng trên báo Sài gòn tiếp thị

Yêu người ngóng núi…

Bạn cũ ngồi than thở, nói ghét Sài Gòn lắm, chán Sài Gòn lắm, trời ơi, thèm ngồi giữa rơm rạ quê nhà lắm, nhớ bé Năm bé Chín lắm. Lần nào gặp nhau thì cũng nói nội dung đó, có lúc người nghe bực quá bèn hỏi vặt vẹo, nhớ sao không về. Bạn tròn mắt, về sao được, con cái học hành ở đây, công việc ở đây, miếng ăn ở đây.


Nghĩ, thương thành phố, thấy thành phố sao giống cô vợ dại dột, sống với anh chồng thẳng thừng tôi không yêu cô, nhưng rồi đến bữa cơm, anh ta lại về nhà với vẻ mặt quạu đeo, đói meo, vợ vẫn mỉm cười dọn lên những món ăn ngon nhất mà cô có. Vừa ăn chồng vừa nói tôi không yêu cô. Ăn no anh chồng vẫn nói tôi không yêu cô. Cô nàng mù quáng chỉ thản nhiên mỉm cười, lo toan nấu nướng cho bữa chiều, bữa tối.

Bằng cách đó, thành phố yêu anh. Phố cũng không cần anh đáp lại tình yêu, không cần tìm cách xoá sạch đi quá khứ, bởi cũng chẳng cách nào người ta quên bỏ được thời thơ ấu, mối tình đầu. Của rạ của rơm, của khói đốt đồng, vườn cau, rặng bần… bên mé rạch. Lũ cá rúc vào những cái vũng nước quánh đi dưới nắng. Bầy chim trao trảo lao xao kêu quanh quày chuối chín cây. Ai đó cất tiếng gọi trẻ con về bữa cơm chiều, chén đũa khua trong cái mùi thơm quặn của nồi kho quẹt. Xao động đến từng chi tiết nhỏ.

Quê luôn ngọt như vị đường mía ngày xưa anh hay lén má giở nắp hũ lấy ngón tay chấm mút. Cả cái nghèo ngày đó cũng chẳng đến nỗi quắt quay, không có bánh kẹo ngon thì cây trái đã sẵn dành. Không có đồ chơi đẹp nhưng đã có thiên đường đồng bãi cho trẻ con chạy nhảy. Cho đến ngày anh đi khỏi, quê vẫn chưa làm anh tổn thương, hờn giận chút nào.

Nên trong anh còn nguyên vùng ký ức ngọt ngào và đằm thắm, mộng mị và êm đềm. Thành phố biết hết, nhưng thành phố không buồn tủi, dù nó chật và ngột ngạt, bức bối trong khoảng không nhỏ hẹp mịt mù khói bụi. Yêu anh, chấp nhận anh nghĩa là phố chấp nhận mình sẽ mất thêm một phần duyên dáng ít ỏi còn lại. Thêm rác, thêm bụi, thêm một chỗ ngồi, thêm một hơi thở… Chật chội hơn, ồn ã hơn, chen chúc hơn. Những ngày tết, phố đẹp, thanh thản và nhàn tản nhất, thì anh lại không nhìn thấy, anh đã hớn hở sum vầy với quê.

Đón anh trở lại, vẫn là một nhan sắc mệt mỏi nhưng khao khát sống và yêu. Những lúc anh chán chường, thành phố xấu xí ngồi vỉa hè nướng những củ khoai thơm, trồng vài bụi chuối, hàng cau, qua một quán cà phê nào, thấy bày biện những khung dệt chiếu, chiếc xuồng con, cái gàu dai, cây rơm nhỏ… Đôi lúc ở một góc đường, anh gặp bầy cào cào, chim sẻ thắt bằng lá dừa non. Đôi lúc ngang qua ngã tư, có bà già đầu đội khăn rằn xách cái bị bàng luống cuống trước dòng xe xuôi ngược. Không có tham vọng biến mình thành một chốn quê, nhưng thành phố đủ rộng lượng để anh công khai sự hoài nhớ của mình.

Và hồn nhiên sống như một người vọng núi kia núi nọ. Hàng me trút lá bên đường khiến anh nhớ mấy cây me già ở quê, giờ chắc thôi ra trái. Ánh đèn đường làm anh nhớ ngọn đuốc lá dừa cháy rập rờn những khuya tan hát ra về. Qua cầu anh nhớ sông quê. Cái kẹp tóc của cô vợ phố làm anh nhớ những mái tóc thả dài xuống tận thắt lưng xưa. Nhìn nhan sắc này để nhớ về một nhan sắc khác.

Mà anh thì cũng không chắc là miền nhớ còn nguyên nỗi quay quắt trong lòng. Anh có thật sự nhớ hay chỉ là cảm giác mặc cảm mình đã phụ rẫy, đã chạy trốn mà anh buột miệng nói nhớ cho quê đỡ tủi, cho mình đỡ thấy áy náy, như một niềm an ủi gởi lại nơi chân trần xối nắng. Má anh, bé Ba bé Sáu vẫn còn ở đó, mà anh bảo là không nhớ thì anh tệ. Anh có thật sự nhớ hay chỉ muốn giữ một lời hứa vu vơ hồi thẹn thò nhón ngón tay cô em nào ở bên rào, “làm gì làm tôi cũng không quên em đâu. Thiệt, tui thề…”. Có phải vì hình bóng quê quá sống động trong trẻo nên anh không thể yêu thành phố?

Bởi thành phố có gì đáng yêu đâu, ngay cả lúc dịu dàng nền nã nhất, thành phố lúc nửa đêm cũng không ngọt ngào như hoa nắng rụng lẫn trong hoa dừa rụng. Có lẽ thành phố xấu xí từ trước khi anh tới, và sau đó vì yêu anh mà xấu xí hơn. Những con đường nghẹn vì người đông. Những dòng sông nghẹn vì rác rưởi. Những ngọn gió nghẹn vì khói bụi. Những ban mai nghẹn trong tiếng còi xe. Bầu trời nghẹn vì những khối nhà cứng nhắc và khô khốc. Va chạm và cãi vã. Chen chúc và cáu kỉnh.

Anh không thể yêu một cô vợ chỉ biết nấu ăn và giặt giũ, anh tìm kiếm một tâm hồn. Nhưng thành phố đã bày tỏ ngay khi anh mới gặp lần đầu, một tâm hồn rộng lượng, bao dung. Yêu cho đi mà không đòi hỏi nhận lại.

Đó chẳng phải là một vẻ đẹp sao, không đáng yêu, không đáng được đáp lời sao?

Nguyễn Ngọc Tư
Trả Lời Với Trích Dẫn Moderated Post
 
Old 22-02-2009, 01:07 PM
heorungcm's Avatar
heorungcm heorungcm is offline
Thành viên tích cực
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 187
Mặt định

Đặt chung vô topic này luôn.
---

Xem kịch Cánh đồng bất tận
Yêu thương hóa giải hận thù
Thứ tư, 28/01/2009, 23:25 (GMT+7)
Chuyện về hai con người đau khổ có chung một số phận là Sương – người đàn bà đẹp – bị lăng nhục, hành hạ tàn nhẫn và Út Vũ – người đàn ông chung thủy – bị vợ phản bội trong cái mênh mông bát ngát của cánh đồng nước trải dài bất tận, trong những thời khắc u ám nhất của thiên nhiên và con người mà hành vi đầy thù hận của họ khiến ta ghê sợ và xót xa.

Câu chuyện trên con thuyền giữa hai người và giữa họ với đồng loại chứa chất cả yêu thương lẫn thù hận. Các tác giả kịch bản sân khấu (Minh Nguyệt) và truyện ngắn (Nguyễn Ngọc Tư) đã gặp nhau ở điểm là cả hai đều tìm cách giải thích và hóa giải sự thù hận (Út Vũ) bằng sự yêu thương (Sương).

Nhưng ở tác phẩm văn học, nhà văn nhìn cuộc sống có phần nào cay nghiệt trước các hiện tượng thì ở tác phẩm sân khấu, đạo diễn có cái nhìn xót xa, tin yêu và nhân ái. Trong vở diễn Cánh đồng bất tận (đạo diễn Minh Nguyệt), người xem thấy được sự yêu thương đã hóa giải sự thù hận.

Câu chuyện đầy kịch tính của Sương – người đàn bà đau đớn không kém gì số phận của Út Vũ – người đàn ông, nhưng Sương không thù ghét, căm hận con người, vẫn cố tìm ra ở con người những khoảng sáng bị bóng tối che khuất. Còn Út Vũ lại làm cho bóng tối dày đặc thêm bởi sự căm ghét đàn bà.

Sự trả thù khiến ông ta vô cảm trước những khát khao chân thành của những người đàn bà ông đã gặp trên bước đường lênh đênh trôi nổi. Út Vũ vẫn thèm đàn bà, quan hệ với họ một cách bất công: Vừa yêu họ lại vừa khinh họ, xa lánh, lạnh nhạt với họ sau khi gần gụi. Thái độ sống của Sương lại hoàn toàn khác Vũ.

Bị hành hạ, cưỡng bức, bị trả thù tàn bạo, khinh bỉ, ruồng bỏ, Sương cũng phẫn uất vì đau đớn về thể xác, bị lăng nhục về tinh thần nhưng trong Sương vẫn còn nguyên lòng trắc ẩn, yêu thương những đứa trẻ phải sống nghèo nàn, mù mờ, dốt nát. Những tâm hồn ngây thơ, trong sáng, sớm phải chứng kiến sự độc ác, mông muội làm Sương không chịu nổi, Sương phản kháng và chống lại.

Trong vở diễn có những lớp thật cảm động ví như lớp Nương thấy máu trong mình chảy mà Nương vẫn không biết mình đã thành thiếu nữ. Hay lớp Điền gào lên tình yêu đầu đời của cậu bé lần đầu biết được lòng mình. Phải chăng vì các tác giả đều là nữ nên đã có được những khám phá tinh tế ấy. Họ đã mô tả được cái khoảnh khắc thiêng liêng của sự vận động, chuyển mình của sự sống.

Trong vở diễn còn nhiều lớp kịch gây ấn tượng, chẳng hạn như lớp Út Vũ chết sau một trận hỗn chiến. Đúng là trên sân khấu không bao giờ người ta chết bình thường cả. Cái chết của Út Vũ là sự thanh lọc, sự tẩy rửa thường gặp trong bi kịch. Lời cuối cùng Út Vũ nói với Sương hãy đưa hai đứa con của mình về làng.

Út Vũ đã chấp nhận sự yêu thương, xóa bỏ hận thù. Con người cô đơn, cố chấp ấy cuối cùng đã thấy cái sai, cái lầm lẫn của mình. Không dễ dàng chút nào đối với con người như Út Vũ, nhưng chính nhờ có quá trình va chạm với Sương mà Út Vũ đã có một cử chỉ thật sự con người.

Diễn xuất của Khánh Hoàng trong Út Vũ, Thanh Thủy trong nhân vật Sương và Cát Phượng trong hai vai người mẹ và Nương đã thật sự chinh phục người xem.

Út Vũ của Khánh Hoàng là một tính cách vừa khắc khổ, khép kín vừa đầy những khát vọng thầm lặng. Một nhân vật rất kiệm lời và hành động dữ dội. Thể hiện một con người như vậy đòi hỏi ở người diễn viên một căn bản kỹ thuật diễn xuất cao.

Thanh Thủy đã thành công trong nhân vật Sương. Cần nhớ lại Thủy đã có nhiều nhân vật hài kịch đầy ấn tượng. Giờ đây khi trở về cày xới trên cánh đồng chính kịch, Thanh Thủy đã dẫn dắt người xem đi sâu vào thế giới nội tâm của người phụ nữ có tính cách mạnh mẽ, người có một cách sống vượt ra khỏi khuôn khổ bình thường của đời sống. Do vậy Sương của Thanh Thủy thật hấp dẫn và tình cảm.

Ở Cát Phượng là hai con người khác nhau trong không gian và thời gian. Một người đàn bà đã ở độ chín của mọi cảm xúc và một cô gái mà tất cả đều là lần đầu tiên. Nương của Cát Phượng không lộng lẫy như người mẹ, nhưng vẻ đẹp tâm hồn dễ làm lay động người xem.

Thành thực, nhuần nhị và không cường điệu là những dấu son mà cả ba nghệ sĩ đã để lại trong không gian khán phòng.

Bối cảnh, trang trí của Cánh đồng bất tận là một tạo hình đơn giản, đa chức năng kết hợp hội họa, kiến trúc với điện ảnh. Một màn hình lớn làm hậu cảnh thể hiện làm nền là các cảnh sông nước, ráng chiều hoàng hôn, lục bình, giàn mướp gợi không gian câu chuyện. Một tấm bục thấp hình ô-van làm điểm đậu của con thuyền có lúc là mũi thuyền, có lúc là lái thuyền, có lúc ta thấy cả lòng thuyền. Cảnh trí ước lệ kết hợp với hình ảnh thực của video đã tạo ra cái mênh mông bất tận của không gian, miêu tả được sự chuyển động của các sự kiện, các tính cách con người.

Lâu nay ít người xem chú ý đến một đặc trưng của Sân khấu 5B Võ Văn Tần là ở sân khấu này không dùng micro – khán giả được nghe giọng nói thật của diễn viên, được ngồi trong một không gian với diễn viên. Cánh đồng bất tận đã có nhiều điểm phù hợp với hình thức sân khấu này, do vậy hiệu quả của vở diễn đã tăng rõ rệt.

Việc đưa lên sàn diễn hoặc màn ảnh những tác phẩm văn học như Kỹ nghệ lấy Tây, Số đỏ v.v... là chuyện không mới, tuy nhiên rất ít tác phẩm kịch hay hơn tác phẩm văn học. Cánh đồng bất tận là một thử thách, hy vọng khán giả sẽ đón nhận nó như đã từng đón nhận tác phẩm đọc.

NSƯT TRẦN MINH NGỌC (SGGP)
Trả Lời Với Trích Dẫn Moderated Post
Trả lời

Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền sử dụng ở Diễn đàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt



Hiện tại là 08:00 AM
Powered by vBulletin® - Extended by tieukhong & sonvt